Trang

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Bài thơ chưa đặt tên-Thơ Song Thu

                                        




Đọc bài viết về 10 món nợ mà trung quốc nợ Việt nam- đăng trên blog của chị Phương- ST nhớ lại chuyến đi lên biên giới thắp hương mộ các liệt sỹ hi sinh trong chiến tranh Biên giới phía Bắc, tổ chức vào cuối tháng 2-2014. Cuộc chiến này là món nợ lớn nhất  ( tính theo số lượng các đồng bào chiến sĩ hi sinh...) Tiếc rằng đến nay vẫn chưa được chính thức tôn vinh...Vì đâu?



Bài thơ chưa đặt tên 


Núi dung dăng dắt núi
Sương dung dẻ dìu sương
Đèo nối đèo chao lượn
Suối róc rách xanh nương

Núi vọng về tiếng súng
Sương phủ trắng xác xương
Đèo trượt vết chân lạ
Suối đỏ máu dân thường...

Mông mênh miền biên giới
Rầu rầu nỗi tiếc thương
 Khom khom nấm mộ cỏ 
Rõi rõi theo dọc đường...

Sao ngủ trong quên lãng?
Sao không dám tri ân?
Có còn là chiến thắng
Nếu thua trong lòng dân?



Xin cám ơn!


 
Ảnh trên: Toàn đòan chụp ảnh tại Nhà bia Chiến Thắng, lập bên cầu Khánh Khê trên sông Kỳ Cùng. Nơi đây ngày 17-2-1979 tiểu đoàn 4 sư đoàn 337 đã hy sinh đến người cuối cùng.
Ảnh dưới: ST thắp hương trong Nghĩa Trang Liệt Sỹ Lạng sơn







Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Có thể bạn chưa biết





Vào khoảng thế kỷ 16, có một số người Việt di cư lên phía bắc lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long. Vùng đất đó bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh thì Trường Bình bị sáp nhập vào nước Trung Hoa. Người Kinh tại đây là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Người Kinh ở Trung Quốc mặc áo dài truyền thống
Thời gian trôi qua, nhóm người Việt này đã bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Tuy vậy họ vẫn nói tiếng Việt. Họ sinh sống chủ yếu trên 3 đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu), gọi chung là Kinh tộc Tam Đảo, thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người Choang Quảng Tây (cách cửa khẩu Móng Cái của Việt Nam chừng 25 km) nhưng tiếng Việt của họ đã pha trộn nhiều với tiếng Hoa kèm với nhiều từ cổ của tiếng Việt.
Họ được coi là cộng đồng người Kinh chủ yếu và còn mang nhiều bản sắc văn hóa Việt Nam nhất tại Trung Quốc với tư cách là một trong 56 dân tộc của đất nước này (không bao gồm cộng đồng người Việt mang quốc tịch Việt Nam hiện đang học tập và làm việc tại Trung Quốc)
Tại Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung, tên gọi “Kinh tộc Tam Đảo”, có nghĩa là “Ba hòn đảo của người Kinh”, hiện vẫn được dùng tương đối phổ biến để chỉ cộng đồng người Kinh này cũng như để chỉ địa bàn sinh sống tập trung của họ tại ba hòn đảo nói trên (nay đã trở thành bán đảo do phù sa bồi lấp và nhờ chính quyền cùng nhân dân địa phương đã đắp đê, làm đường nối các đảo với đất liền).

Vị trí Tam Đảo mà người Kinh sinh sống
Với lịch sử định cư trải qua hơn 500 năm, hầu hết cư dân người Kinh ở khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Ðầu và Sơn Tâm) cũng như một vài nơi khác ở Quảng Tây (chủ yếu tập trung tại Đông Hưng) đều có chung nguồn gốc là người Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam), còn lại số ít người Kinh trong đó có nguồn gốc từ một vài địa phương ven biển của Việt Nam di cư đến. Theo điều tra dân số tại Trung Quốc vào năm 2000, dân số người Kinh riêng tại khu vực nói trên là khoảng hơn 18.000 người trong tổng số trên dưới 22.000 người dân tộc Kinh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, một con số được coi là rất khiêm tốn nếu so với nhiều dân tộc khác đang cùng sinh sống trên đất nước đông dân nhất thế giới này.

Người Kinh tại Trung Quốc
Dòng họ Tô là một dòng họ lớn và được xem là có ảnh hưởng nhất trong cộng đồng các dòng họ người dân tộc Kinh tại Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung. Họ Tô là một trong 12 dòng họ người Kinh hay còn gọi là người Việt gốc Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam). Nhiều người trong họ Tô đã có công nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá các giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống của người Kinh đồng thời cũng là cội nguồn của văn hóa Việt Nam đến nhiều nơi trên đất nước Trung Quốc rộng lớn dù cho dân số của người Kinh tại Trung Quốc là rất khiêm tốn nếu so với nhiều cộng đồng dân tộc khác của đất nước này. Trải qua hơn 500 năm định cư trên đất Trung Quốc, hiện dòng họ Tô cũng như một số dòng họ người Kinh khác không chỉ tập trung sinh sống tại khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm) mà đã phân tán ra nhiều địa bàn khác quanh khu Phòng Thành Cảng của tỉnh Quảng Tây.

Người Kinh đánh trống trong một lễ hội
Ngôn ngữ
Người Kinh tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay tiếng Việt và sử dụng phổ biến chữ Nôm, nhưng từ lâu họ cũng nói tiếng địa phương là tiếng Quảng Đông và sử dụng Hán tự. Tuy nhiên, về ngữ pháp, người Kinh không nói ngược như dân Hán mà vẫn nói xuôi theo lối giao tiếp của người Việt.
Phong tục
Y phục của người Kinh đơn giản và thực tế. Phụ nữ ăn mặc theo cổ truyền với những chiếc áo ngắn, không cổ, chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, mặc những tấm quần rộng nhuộm đen hay nâu. Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay chật nhuộm màu sắc nhạt hơn. Họ thích đeo khuyên tai, tóc rẽ ngôi ở giữa dùng vải đen hay khăn đen bọc lấy và vấn xung quanh đầu. Dân quê còn đi chân đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng tới gối, hai vạt trước sau đối nhau và có giải quấn ở eo lưng.
Ngày nay, người Kinh ăn mặc giống như người Hán láng giềng, mặc dù còn một số người già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và một thiểu số phụ nữ trẻ còn vấn tóc và nhuộm răng đen vì vẫn còn tục ăn trầu, còn đàn ông thì ăn mặc thực tế theo hiện đại như những dân lân cận khác.
Phong tục hôn nhân thì một vợ, một chồng, thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên xếp đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô cậu cấm lấy nhau.

Dân tộc Kinh tại Trung Quốc
Ẩm thực
Về ẩm thực, người Kinh ở Tam Đảo ăn cơm là chính, ngoài ra còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn các loài hải sản như cá, tôm, cua. Đặc biệt, họ làm nước mắm từ cá biển để chấm và nêm thức ăn. Những món ăn ưa thích của họ là bánh đa làm bằng bột gạo có rắc vừng nướng trên than hồng mà sách Trung Quốc gọi là phong xuy hỉ (bánh phồng do gió thổi) và bún riêu, bún ốc sách Hán tự ghi là hỉ ty tức là sợi bún nấu với canh cua và ốc.
Tín ngưỡng, tôn giáo
Tôn giáo chủ yếu là Phật giáo đại thừa và Đạo giáo. Ngoài ra họ còn duy trì tục cúng thần linh và tổ tiên.

Trong một lễ hội
Sinh hoạt văn hóa
Họ ưa thích lối hát đối đáp giao duyên (antiphonal songs) nghe du dương và trữ tình, kiểu như hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ở miền Bắc Việt Nam bây giờ. Lối hát đúm hát đối này thường được tổ chức vào ngày Tết, ngày Hội. Nhạc cụ cổ truyền của người Kinh gồm có đàn nhị (two-stringed fiddle), sáo trúc, trống, cồng và đàn bầu (độc huyền cầm) là một nhạc khí chỉ riêng Kinh tộc có mà thôi. Họ có một kho tàng văn học dân gian truyền khẩu phong phú với ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích… Những điệu múa ưa chuộng của người Kinh là múa đèn, múa gậy sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu thùa.

Y phục và nhạc cụ của người Kinh tại Quảng Tây
Đời sống kinh tế
Người Kinh tại khu vực Tam đảo hoạt động chủ yếu trong các ngành như ngư nghiệp (đánh bắt, nuôi trồng hải sản, nông nghiệp, dịch vụ du lịch. Ngoài ra, một bộ phận dân cư hoạt động trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ.
Trong 700 loại cá đánh ở đây thì hơn 200 loại có giá trị kinh tế cao và thu hoạch nhiều. Ngọc trai, cá ngựa và sea otters sinh sản lắm ở đây và thường quí về phương diện dược liệu. Nước biển của vịnh Bắc Bộ tốt cho sự làm muối. Mùa màng chính ở đây là gạo, khoai lang, đậu phọng, khoai sọ, và kê. Những loại trái cây bán nhiệt đới như đu đủ, chuối, nhãn thì rất nhiều. Những khoáng sản dưới đất gồm sắt, monazite, titanium, magnetite và silica. Những giải rộng của rừng tràm mọc trên vùng nước lợ là một nguồn lợi phong phú về chất tannin dùng làm nguyên liệu tất yếu cho kỹ nghệ thuộc da.
Người Việt Nam cho dù ở đâu vẫn là người Việt Nam!

Nguyễn Anh (tổng hợp)

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Cảm động bài thơ..."cấp PHƯỜNG"


ST: Một nhà thơ nổi tiếng ( xin được dấu tên) có lần viết ( đại ý ):  Bây giờ ai cũng làm thơ...nhà nhà làm thơ, phường phường xã xã đều có câu lạc bộ thơ!  Thôi, xin các cụ về hưu cứ yên bề ăn ngủ mà giữ gìn sức khỏe...làm thơ làm gì cho mệt...( để cho chúng tôi- những nhà thơ chuyên nghiệp làm- mới thực là thơ!!! ).
Ấy thế mà hôm nọ ST được mời dự một buổi sinh hoạt tổ thơ dân phố- thấp hơn CLB thơ cấp phường! Được nghe nhiều câu chuyện tâm huyết của các cụ cựu binh từng xây dựng và canh giữ Trường Sa, rồi nghe các cụ đọc  thơ...mà theo ST,  cảm động và cũng thơ lắm ...
Vậy mời chia sẻ một vài trong những bài thơ ấy nhé!


                                                   




Nhà giàn Đảo Trường Sa

Văn Chung

 Nhà giàn anh ở Trường Sa
Chòi canh nổi sóng phong ba giữa trời
Xa xa chỉ có sóng thôi
Lại gần mới rõ nổi trôi nhà giàn
Ít được gây phút bình an
Sóng vỗ ì oàm, gió rít vi vu

Cười vui anh viết trong thư
Sáo gió nhạc nước tưởng như đàn trời
Bữa ăn rau cá đầy vơi
Con mình hỏi trời rau nước ở đâu?

Cá là bố thả dây câu
Nước bố hứng lúc mưa đầu bão giông
Rau xanh hộp xốp bố trồng
Chả được đầy đủ nhưng không can gì!

Đỏ hoe nước mắt tràn mi
Con muốn ước gì có cánh bay cao
Con muốn nhiều trận mưa rào
Cơm canh thịt cá dồi dào nữa cơ!

Em ôm mái tóc con thơ
Như ôm trọn cả ước mơ nhà giàn...  



Đậu tường vi

Hồng Nhung

Dạo ấy tường vi thỏ thẻ hồng
Bên rào dậu trắng mái nghèo trông
Bao lần ngõ phố ai lui tới
Một thoáng hiên nhà...bạn phải không?

Một mai chia ly đường rẽ lối
Run chân gặp lại cổng ken vồng
Màu hoa lỗi hẹn nay còn nhắc
Chuyện cũ bay về tựa gió đông...


( Mạn phép các tác giả, ST có sửa một vài câu chữ trong thơ. Có gì sơ suất xin được lượng thứ )







Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

Văn hóa bóng đá Trung- Nhật

ST: Sẽ thật là không phải khi chỉ xem một vài tấm ảnh rồi kết luận...nhưng.  Bạn sẽ nói sao khi xem những hình ảnh dưới đây? Còn tôi thì thốt lên: Chẳng lẽ thế hệ trẻ Trung Hoa- những cầu thủ bóng đá- cũng mang dòng máu  ĐẠI HÁN  đến như vậy sao?

Nguyentandung.org có đăng lời bình luận - Không thể tưởng tượng nổi, bóng đá lại lạ đời như vậy. Hóa ra thú tính của các cầu thủ Trung Quốc hoang dã và bạo lực quá, giống như tàu Trung Quốc đâm húc tàu Việt Nam trên biển Đông vậy.
 


 Đây là môn gì đây?

Thủ môn Trung Quốc bắt bóng bằng cú đạp ngực cầu thủ Nhật Bản

Thế này thì ai còn muốn đá bóng với Trung Quốc?

Môn gì đây?
Kết quả Nhật Bản thắng 1-0.



Và đây, tinh thần THƯỢNG VÕ của Nhật Bản

Các cầu thủ Nhật luôn nán lại sân chào khán giả khi tan trận (Nguồn: Yahoo Sports)

Nhập mô tả cho ảnh

Trong trận gặp Hy Lạp đêm 20/6, dù thi đấu hơn người và tạo được thế trận lấn át nhưng Nhật Bản vẫn không thể hạ gục đối phương. Đội tuyển xứ Phù tang bất lực ra về với kết quả hòa 0-0. Tuy nhiên, dù đội nhà thắng hay thua, các cổ động viên Nhật Bản vẫn khiến cả thế giới nghiêng mình bởi ý thức tự giác qua những hành động rất nhỏ: Thu nhặt rác trên khán đài sau trận đấu....

 Ý thức đó có lẽ cũng đã phần nào lý giải vì sao người Nhật đã vượt qua những khó khăn chồng chất để xây dựng đất nước cường thịnh, vươn mình đứng dậy sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, hay gần nhất là sau thảm họa kép động đất-sóng thần hôm 11/3/2011, tạo nên một hình ảnh đẹp làm gương cho cả thế giới.!

( ST sưu tầm từ mạng)

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Những đôi mắt mang hình viên đạn

ST: "Ngày xưa", nhạc sỹ Trần Tiến đã có một bài hát về những đôi mắt mang hình viên đạn, rất nổi tiếng và đã đi vào lòng người. Đó là những "đôi mắt đen xoe tròn" của những em bé, những đôi mắt " trao lời tiễn biệt" của những bà mẹ trở về từ vùng biên giới ...sau thảm họa chiến tranh .


Có lẽ ông không ngờ rằng sau bao năm, chúng ta lại bắt gặp đôi mắt như thế-đôi mắt mang hình viên đạn- 
trong chiến tranh ngoại giao...



 


Và đôi mắt ấy nay lại sáng lên, ánh lên những tia lửa...khiến phía địch phải cúi đầu , lúng túng ...tuy vẫn trơ trẽn và muôn phần thâm độc...


Hình ảnh: Báo NY Times: “Con sư tử Trung Quốc đang gầm rú trên biển Đông” số 1  Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và Ủy viên Quốc vụ TQ Dương Khiết Trì hội đàm

  Ảnh của phóng viên hãng tin Reuters chụp Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khi bắt tay chuẩn bị hội đàm với Dương Khiết Trì



Mời đọc lại lời bài hát của NS Trần Tiến 

Những viên đạn trao từ đôi mắt (những ánh mắt mang hình viên đạn)


 Đoàn quân vội đi đi về biên giới
Cũng từ biên giới về những bầy trẻ nhỏ.
Đoàn quân lặng im nhìn đàn em bé
Từng đôi mắt đen xoe tròn
Từng đôi mắt mang hình viên đạn
Từng đôi mắt sáng lên cháy lên như ngàn viên đạn
Từng đôi mắt quê hương trao cho đoàn quân
Người chiến sĩ hãy giữ lấy.

Đoàn quân vội đi, đi về biên giới
Cũng từ biên giới về những người mẹ già
Đoàn quân lặng im, nhìn dòng người đi
Nghìn đôi mắt trao lời tiễn biệt
Nghìn đôi mắt như nghìn lời ước hẹn,
Nghìn đôi mắt sáng lên, cháy lên muôn triệu viên đạn
Nghìn đôi mắt quê hương trao cho đoàn quân
Người chiến sĩ hãy giữ lấy
Bắn tan quân xâm lược dã man.


 



http://baicadicungnamthang.net/bai-hat/nhung-vien-dan-trao-tu-doi-mat-nhung-anh-mat-mang-hinh-vien-dan-1228.html

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

CHÚC MỪNG! CHÚC MỪNG!


CHÚC MỪNG ANH EM, BÈ BẠN- NHỮNG NGƯỜI LÀM  BÁO CỦA LÀNG TA- NHÂN NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM, 21-6




Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Những cái GEN của người Trung Quốc




-Lý Khắc Cường, Thủ tướng Trung Quốc đã nói với khoảng 350 thính giả ở London, bao gồm các nhà nghiên cứu quốc tế: "Bành trướng không có trong gen của người Trung Quốc, ..."

-Tập cận Bình thì nói, đại ý:  Người Trung Quốc không có gen xâm lược!

Vậy người Trung quốc có GEN gì? Hãy nghe các nhà bình luận Việt nam lên tiếng




Gen trội và gen lặn của “người Trung Quốc”

                                                                                                                               Xuân Dương
 
(GDVN) - Người dân lao động Trung Quốc vốn cần cù, hiền lành đang bị giới tinh hoa của nước này tìm cách “biến đổi gen”, họ đang thực sự trở thành AQ. 


Trước hết phải nói ngay cụm từ “người Trung Quốc” sử dụng trong bài viết này chỉ là nhắc lại lời lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình trong phát biểu ở thủ đô nước Pháp gần đây, tuyệt đối không có ý ám chỉ nhân dân lao động Trung Quốc.
Ông Tập nói đại ý: “Trong máu người Trung Quốc không có gen xâm lược”, vậy họ có gen gì, đâu là gen trội và đâu là gen lặn? 

Gen đại Hán
Ngày xưa, các hoàng đế Trung Hoa coi các dân tộc láng giềng là man di mọi rợ, là đối tượng cần phải chinh phục. Ngày nay, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì, tại diễn đàn khu vực năm 2010 đã cao giọng với các nước Asean: “Có một sự khác biệt cơ bản giữa chúng ta, Trung Quốc là một nước lớn, còn quý vị là những nước nhỏ hơn”. 
Các nước “nhỏ hơn” ấy bao gồm Việt Nam, Indonexia, Singapore…, đặc biệt là Singapore, nơi có tới 75% dân số là người Hoa, thế có nghĩa dù là người Hoa nhưng không nghe theo chính quốc, dù có là quốc gia phát triển đến mấy vẫn bị coi là nhược tiểu, là đối tượng phải bị chinh phục. 
Sự việc biểu tình ở Bình Dương đã được Bắc Kinh triệt để lợi dụng, chẳng thế mà họ sẵn sàng cho “đồng bào Đài Loan” nhập cảnh vào Trung Quốc, họ rất thương “đồng bào Đài Loan” trong khi toàn bộ hòn đảo này đã nằm trong tầm ngắm của hàng nghìn tên lửa từ Trung Quốc đại lục. 
Theo một nguồn tin tình báo Mỹ hơn 1.000 tên lửa DF-15 đã được triển khai tại tỉnh Phúc Kiến, đặt toàn bộ Đài Loan vào trong tầm bắn của nó.


Người gốc Hoa ở hải ngoại đang bị giới lãnh đạo Bắc Kinh biến thành quân cờ trên bàn cờ chính trị bá quyền, lúc thì họ là “đồng bào yêu quý”, lúc thì họ là những kẻ mất gốc mà Singapore chỉ là một trường hợp minh họa. Còn với những người Hoa đại lục, hãy nghe  Hồ Tiến Tích - Tổng biên tập báo Hoàn Cầu viết về người lính Trung Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979: “Người ta chọn ra một đội cảm tử quân để biểu thị quyết tâm, sau đó tập trung tất cả vào một căn phòng lớn. Tại đây, có các binh sĩ đông gấp đôi tổ "cảm tử quân" canh chừng họ, sợ những "cảm tử quân" này sẽ bỏ chạy". 

Ngày nay nhìn những hàng lính Trung Quốc quân phục chỉnh tề, miệng mở rộng hết cỡ hô khẩu hiệu, không ít người cảm thấy choáng váng. Chỉ có điều, thế giới không ai là không biết ít nhất 70% binh lính Trung Quốc là con một, Mạnh Tử nói: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (Trong ba tội bất hiếu, không có con nối dõi là tội lớn nhất), liệu trong đám “kiêu binh con một” ấy bao nhiêu người sẽ tự nguyện vào “đội cảm tử” như Hồ Tiến Tích mô tả? 

Kích động tư tưởng dân tộc cực đoan đại Hán, chính là cách mà giới lãnh đạo Bắc Kinh hy vọng sẽ có được một đội quân cảm tử, thực chất họ luôn coi dân là “những con chuột bạch” trong mưu đồ xưng bá với hy vọng sẽ được lưu danh thiên cổ. Những sự phản đối, những quan điểm trái chiều luôn bị đàn áp dã man bất kể là nguyên soái khai quốc công thần hay học sinh, sinh viên. Các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc như người Tạng trên cao nguyên Thanh Tạng, người Hồi ở Tân Cương… luôn là đối tượng trong chính sách Hán hóa. 

Một người Hồi ở Mỹ đã phát biểu: “Chính quyền Trung Quốc không tạo ra công ăn việc làm cho người Uighur (người Hồi). Chính quyền Trung Quốc chỉ tạo công ăn việc làm cho người Hán đến đây định cư”. Chính sách chia để trị được áp dụng triệt để khi 60% dân số Tân Cương là người Hồi, 40% là người Hán, nhưng quan chức đại đa số là người Hán. 

Những người đã đưa đất nước Trung Hoa từ chỗ chết đói mấy chục triệu người trong “đại nhảy vọt” đến một nước Trung Hoa hùng mạnh ngày nay có công to lớn với dân tộc họ. Nhưng nhân loại từ Á sang Âu đang chuyển từ ngạc nhiên sang lo ngại, trước hết là lo ngại về sự ổn định của đất nước hơn một tỷ dân khi mà lần đầu tiên kể từ năm 1949, Trung Quốc phải tiến hành một chiến dịch mà họ gọi là “chống khủng bố”. Đánh mất lòng tin với chính nhân dân mình làm sao giới lãnh đạo Trung Quốc có thể gây dựng lòng tin với láng giềng, với thế giới?

Gen bành trướng
Bên cạnh các cuộc chiến tranh tàn khốc xâm chiếm lãnh thổ lân bang, còn một cuộc xâm chiếm khác nhẹ nhàng, ít gây xáo động nhưng hiệu quả vô cùng to lớn ấy là di dân đến các quốc gia khác và truyền bá văn hóa Trung Hoa, điều này đã được người Trung Quốc thực hiện một cách âm thầm qua nhiều thế kỷ. Có một lời giáo huấn mới nghe tưởng chừng nghịch lý: “Những người Hoa ra nước ngoài, không trở về tổ quốc là yêu nước”. Sự thật là chính nhờ chủ thuyết đó, tại nhiều quốc gia đã hình thành nhan nhản các phố người Hoa, thậm chí là cả một quốc gia mà người Hoa chiếm đa số như Singapore. 

Sử sách còn ghi lại chuyện vua Đường gả công chúa Văn Thành cho vua nước Thổ Phồn (Tây Tạng ngày nay). Đoàn tùy tùng mà công chúa Văn Thành mang theo đông hàng nghìn người. Người Tạng mơ màng về một mối giao hảo, một nền hòa bình giữa hai quốc gia nên không phòng bị, ba mươi năm sau họ mới giật mình tỉnh ngộ khi nhà Đường đưa quân tiến đánh Thổ Phồn, mặc dù, khi đó công chúa Văn Thành vẫn còn là đệ nhị hoàng hậu của nước này.

Ở Việt Nam, câu chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy có thể không tìm được các chứng cứ minh định song có một điều chắc chắn, rằng tổ tiên người Việt đã nhắc nhở con cháu đừng bao giờ tin vào những gì mà người Trung Quốc nói, dù là công chúa như Văn Thành, con quan như Trọng Thủy hay dân thường thì rốt cuộc họ vẫn chỉ là con tốt được gí sang sông, sống chết không biết lúc nào. 

Một lần về thăm đền vua Đinh ở Ninh Bình, người viết đã được cụ già trông nom đền giải nghĩa bốn chữ “Bắc môn tỏa thược” (北 門 鎖 鑰) ngay trên cổng vào đền thờ, bốn chữ đại tự ấy như lời vua dặn con cháu phải luôn cảnh giác với kẻ thù phương Bắc, cái cửa hướng Bắc (Bắc môn) phải luôn được rào dậu kỹ lưỡng (tỏa thược). 

Mấy chục năm trước, người Việt truyền khẩu một câu chuyện, có một thời ở Mục Nam Quan bên kia biên giới người ta dựng bức tượng “lãnh tụ vĩ đại” tay chống nạnh, tay chỉ về phương Nam, không biết ngầm ý đe dọa hay là chỉ hướng tấn công cho các “đạo quân xà cạp”. Để đáp lại, bên này biên giới, người Việt cho xây một bức tường, trên tường kẻ dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” chắn ngang tầm chỉ của bức tượng. Sau đó bên kia biên giới người ta phải phá bức tượng đi.

 Dòng chữ “Bắc môn tỏa thược” trên cổng đền vua Đinh 

Gen xảo trá
Xảo trá, đổi trắng thay đen có lẽ là gen trội nhất trong các gen mà Bắc Kinh được thừa hưởng. Gen này được di truyền suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa, nó tạo cho giới cầm quyền một công cụ nhằm đánh lừa dư luận thế giới và cũng là để đánh lừa chính nhân dân các dân tộc Trung Quốc. 
  
Trong truyện Tam quốc diễn nghĩa, Chu Du mắc mưu Gia Cát Lượng tức đến nỗi hộc máu mà chết. Gia Cát Lượng tỉnh bơ đến đám tang Chu Du, lại còn khóc lóc thảm thiết tỏ vẻ thương tiếc, người Trung Quốc đời sau lập miếu thờ Gia Cát, ca ngợi là bậc đại trí mặc dù cả cuộc đời Gia Cát luôn là những trận chiến giết hại không biết bao dân lành.

Tính chất xảo trá của giới cầm quyền Trung Quốc từ thời các hoàng đế cho đến thời các “đồng chí” không có gì thay đổi. Chẳng thế mà tại đối thoại tại Shangri-la vừa qua, tướng Vương Quán Trung - Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc nói: “Trung Quốc không bao giờ là bên châm ngòi cho các rắc rối tại Biển Đông”. Hồng Lỗi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: “Tại vùng biển liên quan, tàu thuyền của Trung Quốc chỉ là bên phòng ngự, còn tàu thuyền phía Việt Nam là bên tấn công…”. 

Thử hỏi nếu khai thác dầu tại vùng biển chủ quyền của Trung Quốc hoặc vùng biển quốc tế liệu Bắc Kinh có phải đem hàng trăm tàu chiến, máy bay canh chừng, bảo vệ không? Lu loa có  chứng cứ chứng minh chủ quyền ở biển Đông hàng mấy nghìn năm qua nhưng lại không dám ra tòa án quốc tế, thực chất đó không phải là cách hành xử của kẻ có chính nghĩa. Đó chỉ có thể là cách hành xử thiếu tự tin của những kẻ đang ngộ nhận là quốc gia ở vị trí trung tâm của thế giới.

Gen văn hóa
Đây là loại gen mà các học giả quốc tế đang cố tìm hiểu tại sao nó lại biến mất ở thế hệ lãnh đạo và đa số trí thức Trung Quốc hiện tại. Không ai phủ nhận Trung Hoa là đất nước có nền văn minh rực rỡ trong quá khứ nhưng tại sao người Trung Quốc hiện nay lại bị nhân loại nhìn nhận một cách rất tiêu cực?  Phải chăng “gen văn hóa Trung Hoa” đã trở thành gen lặn với thế hệ hiện tại? 
Hãy xem nhận xét của một học giả: “Rất nhiều lần trong cuộc đối thoại Shangri-la, người điều hành phiên họp đã phải ngăn hoặc cố gắng ngăn các câu hỏi khiếm nhã và hung hăng mà các thành viên đoàn Trung Quốc đưa ra đối với các diễn giả”. Không chỉ có thế, người ta đã phải đặt câu hỏi: “Vì sao thế giới ngày càng ghét Trung Quốc”.

Người dân lao động Trung Quốc vốn cần cù, hiền lành đang bị giới tinh hoa của nước này tìm cách “biến đổi gen”, họ đang thực sự trở thành AQ khi sẵn sàng vứt ra sông Hoàng Phố hàng vạn con lợn chết vì nhiễm bệnh, họ đang đầu độc chính con cháu họ bằng sữa có nhiễm hóa chất công nghiệp melemine, trên tất cả họ đang đầu độc thế giới bằng những thứ hàng nhiễm chất độc như quần áo, đồ chơi trẻ em, hoa quả, thực phẩm… Sông Mê Kông, con sông nuôi sống bao nhiêu triệu người của bốn quốc gia Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam cũng đang bị người Trung Quốc bức tử.
Phải chăng nét văn hóa duy nhất mà Trung Quốc mong muốn là Trung Quốc trở thành thiên triều của toàn nhân loại, chỉ cần người Trung Quốc sống, nhân loại chết hết cũng không sao?

Để tránh ảo tưởng về một quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta phải cởi cái giây tự buộc ở tay mình, phải cho nhân dân, nhất là lớp con cháu nhận diện người hàng xóm phương Bắc với bản chất thâm căn cố đế của họ. Hòa bình không bao giờ có với kẻ yếu, nhất là khi phải sống bên cạnh một kẻ có dòng máu xâm lược cha truyền con nối.
Muốn sống trong hòa bình, bên cạnh lòng yêu nước cần phải có thanh gươm sắc
                                              ( Theo giáo dục VN )