Bí quyết dưỡng sinh trong mùa Thu theo Âm Dương và Ngũ Hành
Xuân – Hạ – Thu – Đông, mỗi khi chuyển mùa, khí Trời khí Đất cũng thay đổi theo. Đạo gia giảng Thiên – Nhân hợp nhất, cơ thể người cũng theo vũ trụ mà vận động. Do đó mà dưỡng sinh trong mùa Thu chú trọng “Thu liễm” – thu bớt lại mà điều hòa thân thể.
Mùa thu bắt đầu từ tiết lập thu và kết thúc vào trước tiết lập Đông. Phương Đông coi tiết Thu Phân là giữa mùa thu và là giai đoạn chuyển tiếp khí hậu.
Ba tháng mùa thu bao gồm 6 tiết khí:
Tháng 7 (Thân): Lập Thu, Xử Thử;
Tháng 8 (Dậu): Bạch Lộ, Thu Phân;
Tháng 9 (Tuất): Hàn Lộ, Sương Giáng.
Sang thu, thời tiết mát dần, Dương khí dần dần thu liễm lại, Âm khí tăng lên. Trời thu trong vắt, mặt đất khô hanh, gió heo may thổi, vạn vật thành thục; đó là mùa quả chín, mùa gặt hái. Đầu thu là giai đoạn chuyển tiếp từ nóng sang lạnh, lúc này trời vẫn còn nóng nhiều, thấp khí (độ ẩm) vẫn còn cao, nhiều khi vẫn còn giông bão. Nói chung, sau tiết Xử Thử trời mới bớt nóng (“Xử Thử” có nghĩa là hết nóng) và sau tiết Bạch Lộ, lượng mưa mới giảm, trời đất khô hanh. Đây cũng là lúc nóng lạnh chuyển đổi, ngày thường nóng đêm thường lạnh, cơ thể không thích ứng được sẽ rất dễ bị cảm mạo hoặc các bệnh cũ cũng dễ tái phát.
Mùa thu chuyển tiếp từ trạng thái tăng trưởng sang trạng thái thu nhập. Nhìn chung, thời tiết có đặc tính “thu liễm”, phép dưỡng sinh trong mùa thu là phải thuận theo cái khí thu liễm trong trời đất mà điều hòa thân thể.
Về thực hành Dưỡng sinh, cần chú ý đến một số vấn đề như sau:
1. Thu liễm thần khí
Sang thu, thời gian chiếu sáng của mặt trời đã giảm bớt, ngày ngắn đi và đêm dài dần. Cảnh mùa Thu lá rụng, đất trời heo hắt, điêu tàn làm cho tình cảm con người dễ bị u buồn, sầu não. Mùa thu thuộc hành Kim, Phế cũng thuộc hành Kim, cho nên khí mùa thu thông với tạng Phế. Về mặt tình chí, tạng Phế chủ về sự u buồn, cho nên lo buồn quá mức sẽ làm cho Phế khí bị tiêu tán, dần dần dẫn đến những tổn thương ở tạng Phế.
Về mặt tinh thần, dưỡng sinh trong mùa thu cần tuân theo nguyên tắc chính là: “Thu liễm thần khí để hòa đồng với khí mùa thu“. Thu liễm thần khí, là giữ cho tinh thần, ý chí ổn định, bình tĩnh, không bị phân tán ra bên ngoài. Tránh ưu sầu làm cho thần khí bị tiêu hao ở bên trong, tránh cáu giận làm cho thần khí bị phát tán ra bên ngoài. Thần khí thu liễm, thì dục vọng không nổi lên; dục vọng không bốc lên thì cái hòa khí trong nhân thể mới duy trì được.
Muốn cho thần khí thu liễm, vào những ngày thu, cần tu tập để giữ thần khí thu liễm ở bên trong, cần chú ý đến những hình thức giải trí có tác dụng giải tỏa u uất. Mùa thu, các nhà dưỡng sinh xưa thường tu tập theo “phép nội dưỡng” (nội dưỡng công). Hàng ngày luyện tập theo phép “Tiểu chu thiên” hoặc “Đại chu thiên” để làm cho tinh thần thanh tĩnh, an định. Mùa thu có hai ngày tết lớn, là tết Trung thu và tết Trùng Dương (vào ngày 9 tháng 9 Âm lịch). Vào tết Trung thu, nhà nhà sum họp, chuyện trò, ngắm trăng, ăn bánh, thưởng thức những trò vui giải trí như múa lân, rước đèn kéo quân… Trong tết Trùng Dương, người xưa thường tổ chức những cuộc leo núi, lên trên đỉnh cao ngắm cảnh khiến cho tâm hồn vui tươi khoáng đạt.
Ba tháng mùa thu cần phải đi ngủ sớm và dậy sớm. Trời tối thì đi ngủ, để tránh cảm phải sương lạnh và giúp cho thần chí được yên tĩnh. Trời tối là lúc Âm khí thu liễm, đi ngủ là thuận theo cái khí thu liễm của mùa thu, thuận với cái đạo “dưỡng thu”. Trời hửng sáng, vạn vật mới thức tỉnh, đó là lúc Dương khí đang lớn dần và lan rộng; thức dậy khi đó sẽ hòa nhập, thuận ứng được theo với cái khí đang bừng tỉnh trong trời đất, làm cho Phế khí được tuyên phát, được thanh tịnh, cơ thể sẽ khỏe mạnh. Trái nhịp điệu trên, thì Phế khí sẽ bị tổn thương, sang mùa Đông sẽ phát ra những chứng bệnh ở Đại tràng (Phế có quan hệ biểu lý với Đại tràng).
Khí hậu trong mùa thu khô hanh, độ ẩm trong không khí giảm xuống, sức gió cũng mạnh hơn. Trong điều kiện như vậy, mồ hôi khô nhanh, làm cho da thịt khô héo, nứt nẻ, nếp nhăn tăng lên, miệng khô họng háo. Trong mùa Thu tóc rụng cũng nhiều hơn, dễ bị táo bón. Mùa này, không nên vận động hoặc làm việc quá nặng, khiến cho mồ hôi vã ra, làm hao tán tân dịch. Cần bảo đảm độ ấm nhất định trong phòng ngủ và nơi làm việc. Quần áo cũng đã cần mặc cho đủ ấm, tuy nhiên không nên mặc quá nhiều làm giảm mất khả năng thích nghi với lạnh của cơ thể.
3. Giảm cay, giữ ấm, tăng chua
Tạng Phế thuộc hành Kim, thông với khí mùa thu. Sách “Kim quỹ yếu lược” khuyên “mùa thu không ăn phổi vì ăn phổi bổ Phế. Mùa thu, Phế khí vốn đã vượng sẵn, bổ thêm sẽ dẫn đến tình trạng ‘thái quá’ có hại cho sức khỏe”.
Về mặt ngũ vị, mùa thu nên “giảm cay tăng chua”. Vị cay thông với Phế, vị chua vào Can; giảm vị cay để cho Phế vị được bình hòa, tăng vị chua để di dưỡng tạng Can. Mùa thu nên giảm bớt các chất cay như hành tỏi, gừng, kiệu, hạt tiêu… Nên ăn thêm các thứ quả có vị chua.
Mùa thu khí hậu khô hanh, “Táo khí”, dễ làm tổn thương tân dịch cho nên về ăn uống cũng cần chú ý đến việc bảo vệ Âm dịch. Sách “Ẩm thực chính yếu” khuyên “mùa thu nên ăn nhiều vừng, hạnh đào, gạo nếp, mật ong, sữa, mía”. Đối với người cao tuổi, sách “Y học nhập môn” viết “sáng dậy ăn cháo, có tác dụng dưỡng vị, lợi cách, sinh tân, thúc đẩy sự thay cũ đổi mới trong cơ thể, làm cho người ta cảm thấy sảng khoái”. Những món cháo có thêm nấm mèo, vừng (mè), hoặc thêm một số vị thuốc như bách hợp, táo đỏ, sinh địa, hạnh nhân… là những món bổ dưỡng, rất tốt trong mùa thu.
Vào đầu mùa thu, khí hậu chuyển tiếp từ nóng sang lạnh (giai đoạn này thuộc “trưởng Hạ”), lúc này trời mát dần, nhưng khí “thấp nhiệt” vẫn hun đúc mạnh, dễ làm tổn hại cơ năng của Tỳ Vị và làm suy yếu sức chống bệnh của cơ thể. Cho nên, cần ăn nhiều những thứ ấm bụng, ít ăn thứ mát lạnh. Các thứ ấm có ích cho Tỳ Vị, các thứ mát lạnh dễ làm hại Tỳ Vị và gây tổn thương tạng Phế. Các sách “Thiên kim dược phương” và “Lão lão hằng ngôn” đều khuyên “nên giữ bụng cho ấm trong giai đoạn từ sau tiết Hạ Chí đến tiết Thu Phân, chớ nên ăn nhiều các thứ hoa quả mát lạnh”.
4. Tĩnh công hoặc chỉ luyện tập nhẹ nhàng
Mùa thu khí trời mát mẻ cũng là điều kiện tốt để rèn luyện thân thể. Tuy nhiên, cần tùy theo độ tuổi mà lựa chọn những hình thức luyện tập thích hợp. Thanh niên có thể chơi các môn leo núi, bơi lội, tắm nước lạnh. Người cao tuổi, thân thể đã hư nhược, có thể múa quyền, chạy chậm, đi bộ và tập một số công pháp nhẹ nhành… Nói chung, dưỡng sinh trong mùa thu nên thiên về các môn tĩnh công.
Trong khi luyện tập, nên chú ý đến sự biến đổi của thời tiết. Buổi sáng, chỉ nên tập đến mức mồ hôi ra lâm râm. Tập quá mức, mồ hôi toát ra, không nên cởi phanh áo quần, để khỏi bị gió lạnh thâm nhập gây nên cảm mạo.
5. Dưỡng sinh trong mùa thu, cần phòng tà khí khô (thu tá, táo tà)
Mùa thu thường hay phát sinh những chứng bệnh do “Thu táo” gây nên. Thu táo (sự khô trong mùa thu) hay gây ra những bệnh biến ở tạng Phế. Phế là tạng rất nhạy cảm, không chịu được độ ẩm quá cao (thấp tà) cũng không chịu được thời tiết quá khô ráo (táo tà). Trước tiết Trung Thu, nhiệt độ không khí nói chung vẫn còn cao, sang đến tháng 8 mà nắng vẫn gắt – “tháng 8 nắng rám trái bưởi” như tục ngữ thường nói. Nhiệt cộng với táo thường tạo nên một thứ bệnh tà mà người xưa gọi là “ôn táo”. Ôn táo là do cảm phải cái khí nắng nực hanh khô của mùa thu, làm tổn thương tạng Phế, gây nên những triệu chứng như đau đầu, phát sốt, đau họng, ho khan không có đờm hoặc khạc ra đờm loãng dính, miệng khô, ngực đầy, da thịt khô sáp, khát nước…
Sau tiết Trung thu, khí hậu mát dần, lúc này lại hay xuất hiện “lương táo” – thứ tà khí khô, thiên về hàn tính. Khi cảm phải lương táo, thoạt đầu sợ lạnh, phát sốt, không mồ hôi, mũi tắc, hơi thở khò khè. Chứng này tương tự như cảm phải phong hàn, nhưng lại có những biểu hiện hao tán tân dịch, như môi ráo, họng khô, ho khan liên tục, ngực đầy tức, cơn đau lan ra hai bên sườn, da dẻ khô rát…
Để đề phòng táo tà, ngoài sự ăn uống, sinh hoạt điều độ, người xưa còn dùng một số bài thuốc có tác dụng “Tuyên Phế hóa đàm”, “Tư Âm ích khí”. Thường dùng các vị thuốc như nhân sâm, sa sâm, sinh địa, bách hợp, hạnh nhân, bối mẫu…
Bác sĩ Hoàng Ngọc Đính, Lương y Thái Hư thuocvuonnha.com
Nhiều bạn thắc mắc về xu thế chọn nghề cho con mình. Các bạn nói bây giờ có tới 200 000 cử nhân, kỹ sư thất nghiệp. Đứa thì lái xe cho Uber, cho Grab, đứa thì đi bán quần áo, đứa làm nhân viên Siêu thị hay Cửa hang ăn uống. Thế thì tốn tiền học làm gì? Các bạn thấy tôi có hai đứa con khá thành đạt, một đưa theo bố nghiên cứu Vi sinh vật học, một đứa làm ngành Y theo mẹ. Các bạn hỏi tôi có ép hai cháu không? Xin trả lời là không. Cháu trai đỗ ba trường Đại học. Khi đó mẹ vợ tôi ốm nặng, phải thường xuyên hút dịch màng phổi rất đau đớn. Cháu muốn trở thành bác sĩ để cứu chữa bệnh nhân, thế là cháu chọn ngành Y. Cháu gái tình cờ hay đến thăm phòng thí nghiệm của bố và do xem kính hiển vi thấy thế giới vi sinh vật đâu chỉ có hình cầu, hình que như cháu thường nghĩ mà thật muôn hình muôn vẻ, vừa đẹp, vừa bí hiểm. Thế là cháu vào học Chuyên sinh rôi vào Khoa Sinh học, sau đó làm Tiến sĩ tại Mỹ. hai cháu đều đang phát huy được hết năng lực của mình. Cháu trai vừa là Giám đốc Trung tâm tim mạch Bệnh viện Trường Y, vừa là Đại biểu Quốc hội Khoá XIV
. Cháu gái hiện là Trưởng phòng Công nghệ cao của Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (ĐH Quốc gia Hà Nội). Rõ ràng là có thể hướng dẫn con cái nhưng không nên làm nghề gì ép con vào nghề ấy chỉ vì lý do đơn giản là dễ xin việc cho con. Người ta đã chứng minh là con người có tới tám loại thong minh khácnhau . Đó là:
1. Thông minh về không gian: Có khả năng khái niệm hóa và thao tác giỏi trong các môn về không gian có quy mô lớn như phi công, thủy thủ, hoặc các dạng không gian dạng khu vực đơn giản hơn như kiến trúc sư, chơi cờ vua…
2. Thông minh về âm nhạc: Có cảm hứng và bắt nhịp tốt với nhịp điệu, giai điệu và âm sắc. Có năng khiếu hát, chơi nhạc cụ hay soạn nhạc …
3. Thông minh về ngôn ngữ: Luôn nhạy cảm với ý nghĩa của từ, trật tự giữa các từ, âm thanh, nhịp điệu, vần luật, yêu văn chương và thích sang tác...
4. Thông minh về sự vận động: Có trí thông minh về sự vận động cơ thể ,có thể học và sử dụng điêu luyện các bộ phận của tay, chân, cơ thể một cách khéo léo, có khuynh hướng thích làm vũ công, nghệ nhân gốm, sứ, làm xiếc…
5. Thông minh về giao tiếp: Có khả năng liên kết, hòa nhập tốt với người khác, dễ dàng bắt được cảm xúc, tâm trạng và chủ động trong các mối quan hệ và có khuynh hướng làm nhà tâm lý học, làm những người đàm phán...
6. Thông minh về toán học: Có khả năng khái niệm hóa mối quan hệ giữa các hành động hoặc biểu tượng một cách logic như nhà toán học hay nhà khoa học.
7. Thông minh về nội tâm: Có thể giỏi phát triển điểm mạnh của bản thân. Có thể tự đưa ra những quyết định của riêng mình trong tương lai, và luôn chấp nhận đối mặt với kết quả của nó dù là tốt hay xấu.
8. Thông minh về giới tự nhiên: Có khả năng phân biệt được những liên quan, tác động của mọi sự việc đến môi trường tự nhiên. Họ yêu thích khám phá, tìm hiểu về thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên.
Nếu ai cũng muốn con mình giỏi Toán như Ngô Bảo Châu thì nước ta làm gì có Nguyễn Thị Ánh Viên, Hoàng Xuân Vinh, Đặng Thái Sơn…?
Vậy làm sao biết được năng khiếu của con mình? Có lẽ cần theo dõi, gần gũi để hiểu biết ý thích của con cái ngay từ khi chúng còn nhỏ tuổi. Người ta nói làm bố mẹ khó nhất là đồng thời phải là những người bạn lớn của con cái .
Tuy nhiên trên thế giới , ở nhiều nước người ta còn có thể theo dõi vân tay của trẻ để biết được khuynh hướng phát triển của từng cháu.
Vân tay của mỗi người trong cả 7 tỷ người trên thế giới đều có những nét riêng biệt được giữ nguyên vẹn từ khi sinh ra đến khi về cõi vĩnh hằng (!) .Hầu như không có ai giống ai. Người Trung Quốc biết in dấu vân tay bằng mực đen của trẻ sơ sinh lên giấy từ thế kỷ 14. Để tránh gian lận ông quan cai trị người Anh là William Herschel ngay từ năm 1858 đã biết bắt thương gia Ấn Độ Rajyadhar Konai phải in vân tay lên mặt sau của các bản hợp đồng. Khoa học về dấu vân tay được Francis Galton khởi xướng vào cuối thế kỷ 19. Năm 1880 Henry faulds đưa ra lý luận về số lượng vân tay (RC-Ridge Count) phụ thuộc vào gen di truyền. Richard Edward Henry đã phát triển phương pháp nhân dạng dấu vân tay. Phương pháp này được Francis Galton cải tiến vào năm 1892. Từ đó về sau việc sử dụng dấu vân tay càng ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống (như hình sự, ngân hang, y học…) Dựa trên vân tay các bác sĩ có thể phát hiện được những bệnh do sai lệch gen. Đặc biệt ngành Vân tay học- một lĩnh vực chủ yếu trong Sinh trắc học hay Công nghệ Sinh trắc học (Biometric) là một lĩnh vực ngày càng phát triển. Hiện đã có trên 100 nước sử dụng Hộ chiếu điện tử bằng công nghệ nhận dạng vân tay. Các đầu quét và đầu dọc vân tay đang được tích hợp sẵn trong những thiết bị ở nhiều nước như máy chấm công, khoá cửa, két sắt… Tuy nhiên riêng về căn cứ vào vân tay để xét đoán khuynh hướng phát triển của trẻ là một lĩnh vực phải có điều tra từ rất nhiều trẻ để tìm ra quy luật phổ biến. Lĩnh vực này khá phát triển ở nhiều nước công nghiệp. Ở Việt Nam xuất hiện những công ty đang khai thác dịch vụ này, tuy nhiên còn chờ đợi một sự đánh giá khách quan của nhiều nhà khoa học. Luật sư Nguyễn Văn Hậu - phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM, cho rằng Sinh trắc học dấu vân tay không thuộc các ngành, nghề cấm kinh doanh nhưng là một dịch vụ chưa được quy định trong pháp luật và lại đang hoạt động trên thực tế. Điều này yêu cầu các nhà làm luật phải vào cuộc xem dịch vụ có hợp pháp, có đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Thứ nhất, cần làm rõ cơ sở khoa học và phải được hội đồng khoa học trong nước công nhận sinh trắc dấu vân tay, bởi kết quả đánh giá lệch dẫn đến hậu quả tư vấn sai, hướng nghiệp sai, đầu tư sai, có thể khiến người trong cuộc khủng hoảng, ép buộc phải làm những việc không phù hợp sở thích, nhu cầu.Thứ hai, nếu có cơ sở chấp thuận cho dịch vụ hoạt động thì cần phải đáp ứng những điều kiện nào trong lưu giữ và sử dụng mẫu dấu vân tay của khách hàng, cơ chế để giám sát ra sao... Các nhà khoa học cần vào cuộc với sự tham khảo sâu sắc kinh nghiệm của các nước phát triển.
Phật dạy 3 cách tu tâm tạo nghiệp lành để trọn đời hạnh phúc
Phật dạy về hạnh phúc
Tu tâm là cách để con người ta tĩnh tâm trước mọi đau khổ, mọi bộn bề của cuộc sống.
Đạo Phật nói cuộc đời là biển khổ mênh mông không có ngày thôi dứt, vì nhân loại lúc nào cũng đấu tranh giành giật, chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên để rồi giết hại lẫn nhau, lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu. Con người đau khổ bởi sinh già bệnh chết, tâm đau khổ vì phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Trong gia đình khổ vì phải làm việc vất vả, nhọc nhằn để lo cơm áo gạo tiền, rồi thương yêu xa lìa khổ, oán ghét mà gặp nhau hoài lại càng khổ hơn, mong cầu mà không được cũng khổ, thân ốm yếu hoặc sung mãn quá cũng khổ.
Nghèo cùng với bao nỗi thiếu thốn, khó khăn, khổ là lẽ đương nhiên nhưng người giàu sang phú quý vẫn có những nỗi khổ niềm đau riêng. Ngoài xã hội lại khổ vì đấu tranh, giành giật, hơn thua, phải trái, cứ như thế oán giận thù hằn ngày càng thêm chồng chất. Với hoàn cảnh thì phải khổ về thiên tai, sóng thần, động đất, bão lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh tràn lan vì sự ngu si mê muội của con người.
Người không biết tu, bản thân họ không được hưởng an lạc và hạnh phúc. Họ thường bị phiền não và đau khổ, cuộc đời chi phối bức bối và chẳng có một phút giây thanh thản.
Tấm lòng của mỗi người tuy khác nhau nhưng đều chung một đích là hướng thiện. Muốn có tấm lòng trong sáng, tốt đẹp, được người yêu thần quý thì nên săn sóc, nuôi dưỡng tấm lòng của mình (hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây.
Tu tâm là việc có thể tự làm ở ngay tại nhà, ngay trong từng việc nhỏ hàng ngày, ở bất kì nơi đâu. Ở nhà biết kính trên nhường dưới, hòa nhã, yêu thương, ra đường biết bênh yếu chống mạnh, bảo vệ lẽ phải, chấp hành pháp luật cũng là tu tâm.
3 điều sau rất có ích cho việc dưỡng tâm lại đơn giản, nên học theo:
1. Thở chậm và điều hòa. Nếu có thể mỉm cười, dù bằng mắt hay chỉ nghĩ đến niềm vui trong lòng tức là để tâm hài hòa với mọi sự và mọi vật xung quanh.
2. Buông nhẹ hai vai, thả lỏng thân thể cho mọi phiền muộn, những điều không may mắn chạy xuống chân, ra khỏi thân thể và tan biến vào lòng đất.
3. Ðể một cái lọ thủy tinh ở chỗ dễ nhìn thấy nhất. Mỗi lần đi ra hay đi vào nhìn thấy lọ thủy tinh thì nhớ nhắc mình bỏ những đồng tiền xu, tiền cắc vào đó và tâm niệm “tôi đóng góp số tiền này để có thể giúp đỡ những trẻ mồ côi, người già yếu hay những ai kém may mắn, vất vả, thiếu thốn trên đường đời…”.
Những điều ấy tuy nhỏ thôi, nhưng như nước dưỡng cây, nuôi lớn tâm hồn, giúp ta trở thành người tốt, biết hướng thiện, sẻ chia và trở nên đẹp đẽ giữa cuộc đời.
Mỗi một người tốt sẽ góp phần làm nên một xã hội tốt, tu tâm và dưỡng tính, theo lời Phật dạy là tạo phúc cho bản thân.