Khi nhắc đến hoa loa kèn, người ta thường sẽ hình dung được đó là loài hoa tượng trưng cho sự hòa hợp, đoàn tụ. Hoa loa kèn xuất hiện như mang đến niềm vui bởi nó là kết tinh của sự hạnh phúc, của lời hứa mãi mãi hòa hợp. Là thời khắc của sự đoàn tụ. Và do vậy, khi bạn dành tặng hoa loa kèn cho một ai đó, có nghĩa là bạn đang gửi gắm thông điệp và sự toàn tâm trong cả tình cảm và ý nguyện mặc kẹ sự xoay quầng của thời gian.
Bên cạnh là thông điệp của sự đoàn tụ thì hoa loa ken còn được biết đến là loài hoa tượng trưng cho những lời chúc tốt lành, cho tấm lòng mong ước “vạn sự như ý” của người tặng đến người được tặng. Đó là lời chúc về những gặt hái trong học tập, thành công trong lập nghiệp và may mắn trong tình yêu, hạnh phúc gia đình viên mãn.
Không chỉ thế, bạn có biết rằng, với lịch sử tồn tại và phát triển, hoa loa kèn được biết đến là loài hoa có sự xuất hiện sớm nhất trong lịch sử các loài hoa. Từ lâu, trên cán lâu đài cổ của người Hy Lạp, hình tượng của hoa loa kèn đã xuất hiện. Và theo truyền thuyết của người Hy Lạp, thì hoa loa kèn chính là tượng trưng cho nàng Hera – nữ thần của thế giới phụ nữ và hôn nhân. Nàng là vợ của thần Zenus.
Chính vì vậy, trên thế giới, khi nhắc đến hoa loa kèn người ta dường như nhắc đến tầng lớp thần tiên, tầng lớp vương giả và những người có quyền lực.
Trải qua thời gian hàng nghìn thế kỷ, cho đến hôm nay, hoa loa kèn đã xuất hiện ở nhiều quốc gia. Chúng có thể ở bất cứ nơi đâu: là cao nguyên giá băng hay là vùng biển lộng gió, vùng đồng bằng phì nhiêu… Dù ở đâu, khi có cơ hội đặt chân vào khu vườn loa kèn nở rộ, chúng tôi tin rằng, bạn sẽ thấy được cảm giác hạnh phúc và lâng lâng đến cháy lòng. Vẻ đẹp kiêu sa và mùi thơm của hoa như quyến rũ bao du khách.
Ý nghĩa về màu sắc
Mặc dù mang những thông điệp chung là như trên nhưng cũng giống như hoa hồng, với mỗi màu sắc khác nhau, loa kèn lại mang thêm trên mình ý nghĩa tượng trưng khác nhau:
+ Hoa đỏ: Đây là loài hoa tượng trưng cho niềm tự hào, vẻ đẹp kiêu hãnh.
+ Hoa cam: Khác với hoa loa kèn đó, ở loa kèn cam thể hiện một sự dỗi hờn, phẫn nộ.
+ Hoa vàng: Nhắc đến hoa loa kèn vàng chính là nhắc đến lời gửi gắm về một sự sai lầm đã mắc phải.
+ Hoa trắng: Loài hoa mang đến những thông điệp cho tình yêu thuần khiết, trinh nguyên, tinh khôi và trong trắng.
+ Hoa sư tử (có màu đỏ tía hoặc đốm đen): Đây là loài hoa loa kèn quý hiếm, chúng mang đến biểu trưng về sự giàu có và kiêu căng.
Những hình ảnh đẹp của loài hoa tháng 4 âm vang đất trời này
5 anh hùng Việt Nam tuổi Tuất: ‘Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước’
Tuất là con giáp thứ 11 trong 12 con giáp, nhưng lại là một con giáp rất được yêu mến vì bản tính của Chó là trung thành, thân thiện và là người bạn tốt nhất của con người. Những người cầm tinh con Chó lại cũng là những đối tác đáng tin cậy, có tấm lòng nhiệt tình cao độ và lòng bao dung kiên nhẫn to lớn.
Chính vì những phẩm chất đó, những danh nhân tuổi Tuất luôn được biết bao thế hệ người Việt Nam yêu mến, để lại những giá trị to lớn vĩnh hằng cho dân tộc.
Tuổi Giáp Tuất
Giáp là một tuổi rất lớn, vì Giáp thuộc Mộc, đứng đầu trong 10 Thiên Can. Giáp Mộc tượng trưng cho cây lớn trong rừng, ý nói là trụ cột, vì vậy thường thấy ở những người lãnh đạo cao cấp, vua chúa. Tuất tuy vậy lại đứng gần cuối trong 12 Địa Chi, nhưng không vì thế mà trở nên kém quan trọng.
Tuất trong Tứ Khố (Thìn Tuất Sửu Mùi) thuộc hành Thổ, vì thế người thuộc tuổi Tứ Khố này có lượng bao dung vô cùng rộng lớn. Giáp kết hợp Tuất chỉ một người lãnh đạo nhân từ, bao dung vĩ đại và sinh ra để làm lợi cho chúng sinh (Tuất là hành Thổ nhưng lại là kho chứa lửa (Hỏa Khố), mà lửa ngày xưa rất quan trọng với con người cũng như nước, là nguồn của sự sống, tiêu biểu cho trí tuệ và văn minh).
Những danh nhân tuổi Giáp Tuất chính là những nhà lãnh đạo vĩ đại bẩm sinh, sinh ra là vì dân vì nước, một đời luôn cống hiến hết mình cho đại nghiệp và lý tưởng.
Lý Thái Tổ: “Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng”
Vua khai quốc nhà Lý (chữ Hán: 李太祖; 8 tháng 3 năm 974 – 31 tháng 3 năm 1028), tên thật là Lý Công Uẩn (李公蘊), là vị hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028.
Vua lên ngôi, dời đô ra Thăng Long lập nền đại thống lâu dài cho nước Việt, cải cách quân đội, đánh bại ngoại xâm, nêu cao đời sống đạo đức, làm cho toàn dân hướng Phật, sống một cuộc đời đạo đức cao cả. Đất nước dưới thời vua Lý Thái Tổ bắt đầu một thời kỳ độc lập, giàu mạnh và tự chủ.
Ông còn là một trong những vị vua ít ỏi luôn xá thuế cho dân chúng, cai trị bằng lòng nhân nhưng vẫn giữ vững bờ cõi với võ công cái thế. Thuở nhỏ, một lần ông bị sư phụ phạt ngủ trước hiên chánh điện vì ham chơi, bèn làm một bài thơ tinh nghịch nhưng thể hiện phong thái đế vương:
Tức cảnh
Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên,
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên.
Dạ thâm bất cảm trường thân túc,
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên”
Tạm dịch:
Trời làm màn gối, đất làm chiên Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng
Luôn tu dưỡng bản thân, sống đạo đức nhân hậu cả đời vì dân vì nước, lúc nào cũng “sợ sơn hà xã tắc nghiêng” nên ông mới kiến tạo được vương triều Lý vĩ đại đến thế.
Tượng đài Lý Thái Tổ ngày nay. (Ảnh: Quora)
Bạch Thái Bưởi – ông vua đường sông Bắc Kỳ: “Nước này có Bạch Thái Bưởi thì không còn Robin”
Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874, mất năm 1932 là một doanh nhân người Việt nổi tiếng. Ông là người có gan làm giàu, từ tay trắng làm nên nghiệp lớn. Lúc sinh thời, ông được xếp vào danh sách bốn người giàu có nhất Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20 (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Bưởi). Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật nhất của Bạch Thái Bưởi là hàng hải, khai thác than và in ấn.
Ông là một trong những nhà tư bản đầu tiên của Việt Nam, là một doanh nhân nhưng lại giàu lòng nhân ái và luôn đề cao tinh thần độc lập tự cường của người Việt.
Mặc dù tiếp xúc thường xuyên với người Pháp, học tập kỹ thuật tân tiến của người phương Tây, nhưng Bạch Thái Bưởi luôn thể hiện tinh thần dân tộc trong hoạt động kinh doanh. Ông đặt tên các con tàu mua lại từ đối thủ nước ngoài bằng những tên Việt như Lạc Long, Hồng Bàng, Trưng Trắc, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Hàm Nghi. Sách Danh nhân Hà Nội ghi lại màn đối đáp giữa Thống sứ Bắc Kỳ và doanh nhân họ Bạch: “Chỉ vì bênh vực cho người dân bị trị, Thống sứ Bắc Kỳ là René Robin nguyền rủa rằng: Nơi nào có Robin thì không có Bạch Thái Bưởi. Ông đã khảng khái đáp lại: Nước này có Bạch Thái Bưởi thì không còn Robin”.
Bạch Thái Bưởi sau đó tiếp tục thành công trên thương trường đường thủy và được mệnh danh là “ông vua tàu thủy”, “chúa sông Bắc Kỳ”. Công ty của ông mở rộng hoạt động ra khắp Đông Dương, sang cả Hong Kong, Trung Quốc, Nhật Bản…
Xuất thân từ tầng lớp nghèo, ông luôn quan tâm đến đời sống của giới thợ thuyền. Ông dành chế độ an sinh cho các nhân viên, trợ cấp cho học sinh nghèo có chí du học. Ông giáo dục con cái lòng quý trọng những người cần lao, nghèo khó; các con đến tuổi trưởng thành đều được ông cất giao công việc trên các bến tàu hay các khu mỏ.
Bạch Thái Bưởi được nhiều doanh nhân Việt Nam sau này coi là một tấm gương sáng. Ông đã định ra các tôn chỉ kinh doanh của mình như thương phẩm, thương hội, tín thực, kiên tâm, nghị lực, trọng nghề, thương học, giao thiệp, tiết kiệm và coi trọng hàng nội hóa. Các tiêu chí này nếu được tuân theo nghiêm chỉnh thì có thể sửa chữa hầu hết những khiếm khuyết cơ bản của doanh nghiệp Việt Nam ngày xưa, và vẫn còn giá trị tham khảo cho các công ty Việt thời nay.
***
Tuổi Nhâm Tuất
Nhâm cũng là một trong những Thiên Can lớn tuy được xếp gần cuối bảng. Nhâm là Nhâm Thủy, là nước lớn chảy mạnh của sông biển mang tính phá hoại mạnh mẽ nếu không có sự kiềm chế của Thổ (đất lớn) làm nó phải trở nên hiền hòa và có ích cho con người. Tuất Thổ cũng là đất lớn khô nóng nên khi gặp Nhâm Thủy sẽ phản ứng rất mãnh liệt, vì thế mà cuộc đời của người tuổi Nhâm Tuất sẽ rất bôn ba vất vả, có khi quá nửa đời vẫn chưa tìm thấy ích lợi của bản thân dù rằng bản sự đầy đủ và trí tuệ to lớn. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp Mệnh tốt, Tuất phối hợp Nhâm tạo thành một thành tựu kỳ vĩ ví như hệ thống đê điều ở Hà Lan, đất nước xinh đẹp và trù phú nhất nằm dưới mực nước biển.
Chính vì lẽ đó, mặc dù cũng có nhiều danh nhân tuổi Nhâm Tuất, nhưng trong lịch sử hầu như không có ông vua nào tuổi Nhâm Tuất. Nhưng cái gì hiếm lẽ dĩ nhiên sẽ rất quý. Nên nếu người Nhâm Tuất làm nên nghiệp lớn (làm vua) thì sẽ kinh thiên động địa. Ví như Lê Thánh Tông, vị thánh quân bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874, mất năm 1932 là một doanh nhân người Việt nổi tiếng. (Ảnh: Wikipedia)
Lê Thánh Tông: “Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”
Ông sinh năm 1442, mất năm 1497, là hoàng đế thứ năm của vương triều Hậu Lê nước Đại Việt. Ông trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, tổng cộng 38 năm, là vị hoàng đế trị vì lâu nhất thời Hậu Lê – giai đoạn Lê sơ và cũng là một trong những vị vua cai trị trong thời kỳ hòa bình lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.
Thời kỳ của ông là thời kỳ nước Đại Việt toàn thịnh cả về văn trị lẫn võ công, đạt đến đỉnh cao của thời Lý Trần đã lâu không thấy.
Trong 38 năm trị quốc, Lê Thánh Tông đã ban bố rất nhiều chính sách nhằm hoàn thiện bộ máy quan chế, hành chính, giáo dục, luật pháp, kinh tế, xã hội, làm nước Đại Việt rất phồn thịnh và văn minh. Ông còn xây dựng quân đội hùng hậu, mở rộng lãnh thổ về phía Nam và phía Tây sau các cuộc chinh phục Chiêm Thành năm 1471, Lào và Bồn Man năm 1478. Các thành tựu về nội trị và đối ngoại của Lê Thánh Tông đã đưa Đại Việt trở thành một cường quốc lớn mạnh trong khu vực Đông Nam Á.
Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ, nhà văn lớn, ước tính có hàng ngàn sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm, trong đó thơ chữ Hán ngày nay còn hơn 350 bài. Thơ của ông thuộc vào loại thơ khẩu khí, chỉ dùng những hình ảnh thông thường nhất cũng nói lên khí độ đế vương.
***
Tuổi Bính Tuất
Bính là thiên can thuộc Dương, xếp hàng thứ 3 trong Thập can. Nó tượng trưng cho ánh nắng mặt trời. Cộng thêm Tuất thổ là Hỏa khố (kho lửa) trên mặt đất nên sẽ thành một tượng quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân trong Kinh Dịch, trên là Trời và dưới là lửa. Quẻ này ý nói đạo đức của người quân tử như ánh mặt trời chiếu rọi trên cánh đồng lớn cộng thêm lửa trên đồng mà rực sáng cả một phương, khắp nơi xa gần đều thấy. Cũng ý nói đạo đức lớn của người quân tử cũng ảnh hưởng sâu rộng như thế. Nên người mang tuổi Bính Tuất thường để lại cho hậu thế tấm gương cao đẹp về đạo đức cũng như sự nghiệp chói ngời không tỳ vết.
Trần Hưng Đạo: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”
Ông sinh năm 1226, mất năm 1300, còn được gọi là Hưng Đạo đại vương (興道大王) hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương (仁武興道大王) là một nhà chính trị, quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. Chiến công vĩ đại nhất của ông là chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên-Mông năm 1285 và năm 1288.
Tương truyền ông chính là Thanh Văn đồng tử vâng lệnh Thượng Đế xuống trần để dẹp quân Mông Cổ bảo hộ cho Đại Việt, vì nước Đại Việt là Phật Quốc nơi mà sẽ xuất hiện Điều Ngự Giác Hoàng (vua thành Phật – Trần Nhân Tông) nên không cho phép yêu tà càn quấy.
Lúc nhỏ, cha ông là An Sinh Vương Trần Liễu vì hận mất vợ nên dốc lòng mưu phản, cố công tìm thầy giỏi cả văn lẫn võ dốc lòng dạy dỗ cho ông thành tài để sau này vì cha mà cướp ngôi. Nhưng ông vốn là người mạng sứ mệnh lớn của Trời, nên từ nhỏ đã thể hiện ra chí hướng của mình. Khi còn nhỏ (khoảng 6 tuổi), lúc chơi sắp xếp đá ngoài sân, ông ứng khẩu làm một bài thơ mà sau này người đời mới thấy sự ứng nghiệm của cả cuộc đời và tăng thêm truyền kỳ về nguồn gốc siêu nhiên của ông:
“Tứ thất uẩn hung trung
Bát bát thám dịch tượng
Lục hoa bố trận đồ
Sát Thát cầm Nguyên Tướng”
Tạm dịch:
“Bốn bảy chứa chất trong lòng,
Tám tám dò xét tượng Kinh dịch.
Bày thế trận Lục hoa,
Giết giặc Thát, bắt tướng Nguyên”
Trần Hưng Đạo sinh năm 1226, mất năm 1300. (Ảnh: soha)
Nghĩa là ông tài gồm cả văn lẫn võ chất chứa trong lòng. “Tứ” nghĩa là Tứ Thư của Khổng Giáo, “Thất” chính là Võ Kinh Thất Thư (bảy tác phẩm binh pháp cổ đại nổi tiếng nhất Trung Hoa). Ngoài ra còn biết xem xét quẻ Dịch để biết ý trời, để bày trận Lục Hoa (chính là Bát Quái Trận Đồ của Gia Cát Lượng nhưng đã được Lý Tĩnh thời Đường cải tiến và đặt tên lại là Lục Hoa) để giết quân Thát và bắt tướng nhà Nguyên. Bậc Thần tướng gồm cả văn tài võ lược, trên thông thiên văn dưới tường địa lý lại có chân truyền trận đồ bát quái thì lẽ nào lại thua quân Nguyên Mông được.
Dưới sự lãnh đạo của các vua Trần và Hưng Đạo vương, quân đội Đại Việt quân số ít, trang bị không bằng mà đã hai lần đánh tan hàng trăm nghìn quân Mông Nguyên hùng mạnh, giành thắng lợi mà “tiếng vang đến phương Bắc, khiến chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi thẳng tên”. Chiến lược của ông đã góp phần rất lớn đưa đến thắng lợi này, vậy nên chiến công vĩ đại này thường gắn liền với tên tuổi của ông, đưa ông lên hàng “thiên tài quân sự” của thế giới, và là một anh hùng dân tộc bậc nhất của nhà Trần, một bậc thầy về chiến lược quân sự. Chiến thắng của ông và quân dân nước Việt đã góp phần đánh dấu chấm hết cho thời kỳ đỉnh cao của quân Nguyên – Mông trong lịch sử.
Như đã nói ở trên, Bính Tuất còn là một tấm gương ngời sáng về đạo đức lưu giữ cho ngàn đời sau. Trần Hưng Đạo lúc sinh tiền đã luôn cố gắng hòa giải những mâu thuẫn nội bộ hoàng tộc, giữ tình đoàn kết trong gia tộc và quân dân cả nước để có thể chiến thắng kẻ thù hùng mạnh hơn. Những câu chuyện về nhân cách đạo đức của ông ngày nay vẫn là mẫu mực cho hậu thế noi theo. Ông mất đi trở thành Đức Thánh Trần được nhân dân hương khói phụng thờ suốt 800 năm qua. Quả thật là:
“Anh hùng vi đệ nhất.
Sinh vi tướng, tử vi thần.
Vạn thế danh lưu thanh sử,
Nam thiên đại đại tồn chính khí”.
***
Tuổi Mậu Tuất
Mậu xếp hàng thứ 5 trong 10 thiên can, nó thuộc Dương Thổ phối với Tuất kho Hỏa tượng trưng cho một vùng đất rộng lớn và nóng bỏng khô cằn. Vậy nên, người tuổi Mậu Tuất vốn dĩ có tài rất lớn nhưng chỉ dừng lại ở mức tiềm năng, rất khó phát lộ nếu không gặp thời vận. Đa phần ôm hận cả đời hoặc đến khi lớn tuổi mới có cơ hội. Vì chỉ có khi gặp nước lớn (Dương Thủy) thì mới trở nên có ích.
Nước lớn này chỉ có trong hai trường hợp. Một là đến từ Thìn (rồng) vì Thìn xung Tuất là sẽ mở kho Lửa hay mở kho Nước tùy vào thành phần nào nhiều hơn. Thìn (đất ẩm trong ngũ hành và hình tượng con rồng) còn tượng trưng cho vua và ý trời, người lãnh đạo cấp cao, nên người Mậu Tuất chỉ khi nào gặp được đấng minh quân và thiên thời thì mới chuyển mình thành đất lành cho trăm họ. Giống như một vùng sa mạc đột nhiên xuất hiện một con sông lớn cùng với thời tiết mưa thuận gió hòa mà chuyển mình thành vùng đất xinh đẹp trù phú.
Trường hợp thứ hai chính là nước từ Nhâm Thủy, vì Mậu Thổ còn có khả năng trị thủy, khắc Thủy, tượng trưng cho một con đê ngăn lũ. Nhâm Thủy kia chính là chỉ sự biến động của thời thế, ví như một cơn sóng thần hay lũ dữ đem đến họa loạn khắp nơi, nhân dân cần một người có thể đứng ra an định tình hình. Nên nếu thời thế xoay chuyển, đất nước trở nên nguy nan, nếu có minh quân cho phép nắm quyền đại tướng thì người Mậu Tuất có thể hóa nguy thành an, trở thành rường cột quốc gia, bình định giang sơn và giúp vua trị quốc.
Nguyễn Công Trứ: “Đã chắc ai rằng nhục rằng vinh, mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ”
Ông sinh năm 1778, mất năm 1858, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, là một nhà chính trị, nhà quân sự và một nhà thơ nổi tiếng thời nhà Nguyễn. Ông làm quan qua các đời vua Gia Long Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Chiến công của ông nổi bật nhất là khai hoang, mộ dân trên một vùng đất lớn ở miền Bắc, lập nhiều chiến công trong việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy chống triều đình và trong chiến tranh Việt-Xiêm (1841-1845).
Ông là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê ở làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ngay từ thuở hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp:
“Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.”
Năm 1819, khi đã 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên ở trường thi Hương trấn Nghệ An. Từ đây bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió của ông.
Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778, mất năm 1858. (Ảnh: ĐKN)
Cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp. Ông được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, tới chức thượng thư, tổng đốc; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp như năm 1841 bị kết án trảm giam hậu rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú,v.v…Ông tự trào phúng bản thân qua bài thơ “Bài Ca Ngất Ngưởng” như sau:
Chúng ta đã nói nhiều làm sao có thể cầm gì đó trong tay – tiền, tài, tình, tiếng – mà khi mất đi ta không hề bị stressed một chút nào. Hay là muốn điều gì đó mà không stressed, không bị dính cứng vào ý muốn đó.
Đây là việc khó làm. Thường là khi ta muốn đạt được gì, ta cố gắng đạt nó, và khi ta không đạt được, ta có thể bị stressed, như chúng ta vẫn thấy các vận động viên thua cuộc và khóc. Hoặc khi ta đã có gì trong tay rồi, như là chức vụ và danh tiếng, bỗng gặp gì đó mà mất tất cả, như cựu tổng thống Hàn quốc Roh Mu-hyun chỉ vì bị điều tra tham nhũng mà tự tử. Bình thản mỉm cười trong mọi tình huống chẳng dễ chút nào.
Đây là cốt lõi của những khái niệm mà chúng ta thường nói đến: vô ngã, vô chấp, vô trụ, dâng mọi sự vào tay Chúa (total submission). Nếu ta làm được điều cốt lõi này – bình thản, không stressed – thì đó là bằng chứng chúng ta đã đến hàng Bồ tát, hàng Thánh.
Đương nhiên là từ phàm phu đến Thánh cũng có nhiều cấp bậc. Nếu chưa là Thánh ngay được thì hãy cố gắng làm thiện tri thức (người có trí tuệ tốt).
Đây là vấn đề thái độ 100%. Cách tập luyện thì rất dễ, chỉ cần kiên trì để hệ thần kinh của ta thành quen.
Nếu bạn để một triệu đồng trong túi và một lúc nào đó khám phá ra là đã mất (rất có thể vì lôi xâu chìa khóa ra khỏi túi và kéo theo tiền), thay vì bực mình thì nói: “Khi được, khi mất, chuyện thường thôi.” Hay là “Khi Chúa cho, khi Chúa lấy.”
Nói chung là mất gì, thì cũng nói một câu như thế. Riết rồi bạn sẽ quen, dù bị mất gì cũng xem là chuyện tự nhiên ở đời, dù đó là cả một cơ nghiệp của mình.
Nhưng tại sao mình cần phải tập thái độ như thế? Bởi vì, đó là trí tuệ. Người hay stressed thì thuần túy là ngu dốt. Đã mất rồi, có stressed cũng không lấy lại được. Hơn nữa, đời hợp tan tan hợp là chuyện tự nhiên thường tình, có được được mất là chuyện tự nhiên thường tình, cũng như là khi khỏe khi bệnh, chẳng có gì phải ngạc nhiên hay stressed.
Nếu chúng ta có thái độ như thế thì ta luôn bình an hạnh phúc, và lại thường thắng hơn thua ở đời, vì người bình thản thường đánh đâu thắng đó. Võ sĩ đấu võ đài cũng vậy. Người nào bình tĩnh, không căng thì thường thắng. Chiến đấu hết mình, thắng thua là chuyện thường. Chẳng lẽ thắng mãi không thua? Chiến đấu là vì nghệ thuật và để trình diễn cho khán giả thưởng thức nghệ thuật, thắng thua là để biết sức mình, có chết chóc gì nếu thắng hay thua? Cho nên võ sĩ, vận động viên chuyên nghiệp, thường bình thản khi đấu, và chính nhờ bình thản mà cơ hội thắng của họ lại tăng.
Điều quan trọng hơn cả là người bình thản luôn giúp cho những người quanh mình bình an hơn, nhất là trong khi sóng gió. Bạn đương nhiên là người lãnh đạo ai cũng thấy trong thời kỳ khủng hoảng. Vì trong khi mọi người sợ đến đông lạnh, chỉ có bạn bình tĩnh khuyên bảo hay chỉ đường cho mọi người. Bình thản trong mọi hoàn cảnh là yếu tố số một của lãnh đạo, không có yếu tố nào quan trọng hơn vậy.
Cảm lạnh là bệnh xảy ra ở đường hô hấp trên khi trời trở lạnh. Biểu hiện chủ yếu là ho, đau họng, sổ mũi, hắt hơi và sốt. Các triệu chứng và cách điều trị cảm lạnh đã được miêu tả trên giấy cói (Papyrus Ebers) của người Ai Cập cổ đại. Đó là văn bản y tế lâu đời nhất hiện có và được viết vào khoảng thế kỉ 16 Trước Công nguyên. Tên gọi common cold (cảm lạnh) xuất hiện vào khoảng thế kỷ 16. Và ở Anh các đơn vị nghiên cứu đã được thành lập vào năm 1946 nhằm nghiên cứu sâu sắc hơn về căn bệnh này. Nguyên nhân thường là do virut, nhất là nhóm Rhinovirus gây nên. Cảm lạnh có thể dẫn đến viêm họng, viêm xoang do cơ thể phản ứng lại với virut. Trung bình người lớn thường bị cảm lạnh 2-4 lần/năm; trẻ em thì thường bị tới 6-8 lần/năm. Ở trẻ nhỏ cảm lạnh ảnh hưởng trực tiếp tới khí quản, gây nên triệu chứng viêm thanh quản, do kích thước đường hô hấp ở trẻ là khá nhỏ.
Triệu chứng ban đầu thường là ho, xổ mũi, nghẹt mũi, đau họng, đôi khi đau cơ. Mệt mỏi, đau đầu, ăn không ngon miệng. Ho do cảm lạnh nhẹ hơn so với cúm. Trẻ em bị cảm lạnh thì khó ngủ, hay ói sữa, biếng ăn, táo bón (hai ba ngày mới đi một lần, phân hôi), tiêu chảy, hay khóc, quấy, da tái mét, khi khóc thì tím ngắt mặt mũi chân tay và khó dỗ được. Có tới 30-80% trường hợp cảm lạnh là do virut thuộc nhóm Rhinovirus, khoảng 10-15% do virut thuộc nhóm Coronavirus. Ngoài ra còn có nguyên nhân do các nhóm virut khác. Các virut này lây lan qua đường không khí, qua tay khi tiếp xúc với vật bẩn rồi đưa lên mắt, lên mũi. Bệnh lây lan nhanh sang những người cùng sống trong nhà hay học cùng một lớp. Cảm lạnh thường xảy ra nhiều trong những ngày mưa và lạnh. Khi đó hệ thống hô hấp nhạy cảm hơn và do không khí khô nên virut dễ khuếch tán xa hơn, tồn tại lâu hơn. Khi thiếu ngủ hoặc suy dinh dưỡng sẽ dễ mắc chứng cảm lạnh , vì lúc đó hệ thống miễn dịch của con người bị suy yếu đi khá nhiều. Để phòng tránh cảm lạnh trước hết cần mặc đủ ấm, nhất là với con trẻ. Ra đường nên đeo khẩu trang và đeo kính râm. Tay cần rửa sach sẽ và tránh tiếp xúc với người đang bị cảm lạnh. Học sinh bị cảm lạnh cần xin phép nhà trường cho nghỉ học để điều trị và tránh lây lan cho bè bạn. Vì bệnh do virut gây nên cho nên dùng thuốc kháng sinh thường không có tác dụng. Thường sử dụng thuốc giảm đau và hạ sốt như Ibuprofen, Acetaminophen/Paracetamol. Thuốc Rhumenol Flu 500 có chứa 500mg Acetaminophen, 5mg Loratadin và 15mg Dexthomethorphan, uống mỗi ngày 3 viên. . Tiffy là thuốc chủ yếu dùng trị cảm – sổ mũi, cụ thể dùng trị sốt, nhức đầu, đau nhức bắp thịt kèm theo sổ mũi, nghẹt mũi, viêm mũi, viêm xoang do cảm cúm hoặc dị ứng với thời tiết.Thuốc cũng được dùng để giảm đau đầu, đau lưng, đau răng, đau mỏi xương khớp. Thuốc Pseudoephedrin có hiệu quả trong việc khắc phục chứng nghẹt mũi. Có thể ngậm viên Dorithricin, mỗi viên có chứa 0,5mg Tyrothricin, 1mg Benzalkonium chloride và 1,5 mg Benzocaine. Chú ý không dùng viên này cho trẻ nhỏ. Các thuốc này đều có bán không cần đơn tại các hiệu thuốc.
Một số lưu ý khi dung thuốc: Phòng tránh hại gan: Không sốt cao (trên 38oC), không đau nhức thì không nên dùng paracetamol (acetaminophen). Khi dùng thuốc có chứa paracetamol không dùng một lúc nhiều dạng thuốc (đã tiêm không uống, đã uống không đặt thuốc hậu môn) để tránh quá liều.
Để tránh đột quỵ: Người có bệnh tăng huyết áp, tim mạch nặng, cường giáp, đái tháo đường… không dùng các biệt dược chứa phenylpropanolamin ( đã bị cấm ở Việt Nam nhưng đề phòng trường hợp mang thuốc từ nước ngoài về), pseudoephedrin.
Không dùng chlorpheniramin maleat và các biệt dược có chứa chất này cho bệnh nhân: Không dùng khi đang lên cơn hen, tắc cổ bàng quang, phì đại tuyến tiền liệt, thiên đầu thống (glaucom góc hẹp), tắc môn vị, tá tràng, loét dạ dày, trẻ sơ sinh, người mang thai 3 tháng cuối, người đang nuôi con bú.
Trường hợp nhẹ như: hắt hơi, chảy nước mũi trong… chỉ cần uống thuốc kháng histamin H1 như: chlorpheniramin maleat hoặc loratadin hoặc cetirizin… là khỏi. Có thể dùng thực phẩm để chữa trị cảm lạnh. Ví dụ dùng nước hầm gà, nước ép cà rốt (có thêm một chút gừng, mật ong), uống 3 lần trong ngày và uống trong vài ngày. Trung Quốc có loại thuốc Ganmao Zhike đóng trong các túi 5g có chứa bột Kim ngân hoa, Sắn dây, Sài hồ, Liên kiều, Hoàng cầm, Cát canh, Bạc hà. Uống mỗi ngày 3 lần pha trong nước sôi. Hiệu quả khá rõ nhưng lưu ý không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi. Kinh nghiệm dân gian ta chữa cảm lạnh bằng cháo nấu nhuyễn, thêm tía tô, hành răm, gừng và 1 lòng đỏ trứng gà. Ăn xong chùm kín chăn trong 10-15 phút để toát mồ hôi và thay áo. Còn có cách đánh gió giải cảm. Lấy một nhánh gừng tươi, giã nhỏ với tóc rối, trộn với rượu, bọc vào miếng vải thưa rồi đánh gió từ trên xuống lưng nhằm đưa khí nóng vào cơ thể bằng cách cho thấm qua da. Cũng có thể dùng đồng xu tròn bằng bạc hay thìa kim loại cạnh tròn. Bôi dầu lên da rồi rồi đánh mạnh dọc theo hai bên sống lưng và cổ, vai. Quan niệm phải sát thật mạnh cho bầm tím lên là không đúng, vì đó là cách gây xuất huyết dưới da. Còn dung cách xông hơi bằng nồi đun các lá chanh, lá sả, các lá tía tô, kinh giới, bạc hà, mít, nhãn, gừng, nghệ, tre, cây cứt lợn… Chùm kín chăn và xông hơi trong 15-20 phút sao cho toát hết mồ hôi và ngâm hơi thuốc vào người. Có thể xông hai lần trong một lần cảm. Nếu ho nhiều có thể dùng các loại thuốc ho có bán tại hiệu thuốc, thường dùng sirô Prospan chưa cao khô của lá Thường xuân. Cũng có thể dùng sirô chanh đào tự chế tạo như sau: Cắt 1 kg chanh đào thành miếng mỏng, ngâm với 1 lít mật ong, thêm 3 thìa muối và 1 củ gừng. sau 3 tháng có thể bắt đầu sử dụng như với các loại sirô ho khác.
Phật dạy 3 cách tu tâm tạo nghiệp lành để trọn đời hạnh phúc
Phật dạy về hạnh phúc
Tu tâm là cách để con người ta tĩnh tâm trước mọi đau khổ, mọi bộn bề của cuộc sống.
Đạo Phật nói cuộc đời là biển khổ mênh mông không có ngày thôi dứt, vì nhân loại lúc nào cũng đấu tranh giành giật, chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên để rồi giết hại lẫn nhau, lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu. Con người đau khổ bởi sinh già bệnh chết, tâm đau khổ vì phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Trong gia đình khổ vì phải làm việc vất vả, nhọc nhằn để lo cơm áo gạo tiền, rồi thương yêu xa lìa khổ, oán ghét mà gặp nhau hoài lại càng khổ hơn, mong cầu mà không được cũng khổ, thân ốm yếu hoặc sung mãn quá cũng khổ.
Nghèo cùng với bao nỗi thiếu thốn, khó khăn, khổ là lẽ đương nhiên nhưng người giàu sang phú quý vẫn có những nỗi khổ niềm đau riêng. Ngoài xã hội lại khổ vì đấu tranh, giành giật, hơn thua, phải trái, cứ như thế oán giận thù hằn ngày càng thêm chồng chất. Với hoàn cảnh thì phải khổ về thiên tai, sóng thần, động đất, bão lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh tràn lan vì sự ngu si mê muội của con người.
Người không biết tu, bản thân họ không được hưởng an lạc và hạnh phúc. Họ thường bị phiền não và đau khổ, cuộc đời chi phối bức bối và chẳng có một phút giây thanh thản.
Tấm lòng của mỗi người tuy khác nhau nhưng đều chung một đích là hướng thiện. Muốn có tấm lòng trong sáng, tốt đẹp, được người yêu thần quý thì nên săn sóc, nuôi dưỡng tấm lòng của mình (hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây.
Tu tâm là việc có thể tự làm ở ngay tại nhà, ngay trong từng việc nhỏ hàng ngày, ở bất kì nơi đâu. Ở nhà biết kính trên nhường dưới, hòa nhã, yêu thương, ra đường biết bênh yếu chống mạnh, bảo vệ lẽ phải, chấp hành pháp luật cũng là tu tâm.
3 điều sau rất có ích cho việc dưỡng tâm lại đơn giản, nên học theo:
1. Thở chậm và điều hòa. Nếu có thể mỉm cười, dù bằng mắt hay chỉ nghĩ đến niềm vui trong lòng tức là để tâm hài hòa với mọi sự và mọi vật xung quanh.
2. Buông nhẹ hai vai, thả lỏng thân thể cho mọi phiền muộn, những điều không may mắn chạy xuống chân, ra khỏi thân thể và tan biến vào lòng đất.
3. Ðể một cái lọ thủy tinh ở chỗ dễ nhìn thấy nhất. Mỗi lần đi ra hay đi vào nhìn thấy lọ thủy tinh thì nhớ nhắc mình bỏ những đồng tiền xu, tiền cắc vào đó và tâm niệm “tôi đóng góp số tiền này để có thể giúp đỡ những trẻ mồ côi, người già yếu hay những ai kém may mắn, vất vả, thiếu thốn trên đường đời…”.
Những điều ấy tuy nhỏ thôi, nhưng như nước dưỡng cây, nuôi lớn tâm hồn, giúp ta trở thành người tốt, biết hướng thiện, sẻ chia và trở nên đẹp đẽ giữa cuộc đời.
Mỗi một người tốt sẽ góp phần làm nên một xã hội tốt, tu tâm và dưỡng tính, theo lời Phật dạy là tạo phúc cho bản thân.